Eo-Chan-Hi
21-01-08, 08:37 PM
Thơ vần "ôm"(dành cho các thể thơ 7 chữ-8 chữ-4 chữ-5 chữ...(tự do)
Tuy nói là thơ tự do,nhưng nó cũng phải theo 1 quy luật của nó .Vần ôm là khi câu thứ nhất cùng vần với câu thứ 2.Ví dụ:
Muộn màng làm sao bài thơ tôi viết
Để giờ này hối tiếc những ngày qua
Người đã xa tất cả cũng sẽ xa
Chỉ còn tôi với bài thơ viết dở
Biết làm sao khi tôi lầm lỡ
Tự chôn vùi hồn xuống huyệt sâu
Biết làm sao,ta khóc vì đâu
Không hiểu nỗi,trọn đời không giải thích
Chuyện của tôi không như trong cổ tích
Kết thúc buồn còn không hiểu vì sao
Bài thơ tặng người tôi ấp ủ biết bao
Sao không thể trao đến người được.
Có khi nào nhìn bầu trời phía trước
Người chạnh lòng nhớ người ở phương xa?
Có khi nào trên đường phố xa hoa
Người bước đi mong có tôi bên cạnh?
Và giờ đây giữa trời đông giá lạnh
Tôi muốn mình cũng lạnh giá như băng
Lòng nhủ thầm:trời sắp sửa sang xuân
Tôi cũng sẽ trở về tôi ngày trước
Nhưng ngày mai tôi làm sao biết được
Tôi là tôi của ngày tháng năm nao?
Tôi thấy mình sao quá trời tự cao
Mà cũng phải hạ mình...xin lỗi
Người không thương mà còn nỡ lối
Khép tôi vào tội lỗi đáng trách nguyền
Biết làm sao yêu mến sai duyên
Nên chỉ có mình tôi hối tiếc.
(Nanh)
Vần chéo
Vần chéo là khi câu thứ 1 cùng vần với câu thứ 3,hoặc câu thứ 2 cùng vần với câu thứ tư.Ví dụ:
Sương giăng đầy góc phố
Biết là đã mùa thu
Gió lùa vào tóc rối
Lạnh buốt hồn tương tư
Đêm,trăng sao đi vắng
Không gian bỗng não nề
Một vùng đầy khoảng lặng
Tình ta chết đê mê
Ở nơi đây sương gió
Lạnh giá con đường quen
Còn phương trời lạ đó
Anh có nhớ đến em?
(Nanh)
Lục Bát
Lục Bát là loại thơ Sáu Tám, một câu sáu và một câu tám. Bài thơ lục bát luôn đươ.c bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Lục Bát là thể thơ thông dụng nhất, vì cách làm và gieo vần tương đối đơn giản.
Lục= sáu chữ --- chữ 2 Bằng, 4 trắc, 6 Bằng
Bát= tám chữ --- chữ 2 bằng, 4 trắc, 6 bằng, 8 bằng
Trong thơ lục bát, chữ thứ sáu của câu Lục, vần với chữ thứ sáu của câu Bát. Chữ thứ tám của câu Bát vần với chữ thứ sáu của câu Lục kế tiếp và cứ theo quy luật đó cho đến hết bài thơ.
x B x T x B(v)
x B x T x B(v) x B(v)
v= vần
Ví Dụ như sau:
Lim dim(B) đôi mắt(T) em chìm(B)(v1)
Chìm trong (B) giấc mộng(T) êm đềm(B)(v1) khoảng không(B)(v2)
Ô kìa(B) đến chốn(T) phiêu bồng(B)(v2)
Môi anh (B) chạm đến(T) môi hồng (B)(v2) em say...
(Nanh)
CÁCH LÀM THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ
(Thơ Đường Luật)
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật gồm có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Tổng cộng có 56 chữ.
Về cách phối âm, hay luật bằng trắc giữa các câu, ta chỉ nói các thanh Bằng-Trắc của các chữ đứng thứ 2-4-6 trong 1 câu (theo quy tắc Nhất-tam-ngũ bất luận, nhị-tứ-lục phân minh). Các tiếng 2-4-6 trong cùng 1 câu theo thứ tự luật bằng trắc có thể là B - T - B hay có thể là T - B - T.
Ví dụ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông B - T - B
Nuôi đủ năm con với một chồng T - B - T
Đôi khi trong câu đầu tiên của bài thơ cũng có thể làm theo thứ tự B - B - T, cũng có thể xem đó là luật phối thanh của câu T - B - T. Ví dụ:
Một đèo, một đèo, lại một đèo B - B - T
Về cách gieo vần trong thơ: Vần trong thơ là những tiếng đọc giống nhau hay những tiếng đọc gần giống nhau như cùng một vần, hay là vần gần giống nhau mhư sông-chồng, tà-hoa.... Các vần giống nhau trong thơ Đường luật mang thanh bằng, và được đặt ở cuối mỗi câu thơ. Có thể gieo vần vào các tiếng cuối của các câu 1-2-4-6-8, hay có thể là 2-4-6-8, và các vần phải vần với nhau rõ ràng,các tiếng cuối câu 3-5-7 còn lại phải mang thanh trắc, các cao nhân thời xưa thường hay gieo vần vào các tiếng cuối các câu 1-2-4-6-8. Ví dụ:
Sóc phong suy hải khí lăng lăng
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng
Ngạc đoạn, kình khoa sơn khúc khúc
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Quan hà Bách nhị do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Vãn sự hồi đầu ta dĩ hĩ
Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng
(Bạch Đằng hải khẩu - Nguyễn Trãi)
Trong khi gieo vần thường các cao nhan cũng chú ý đối thanh trong thơ, thường có 2 cách đối thanh, đó là đối thanh huyền (H) và thanh ngang (N) trong các vần được gieo. Ở bài thơ ví dụ trên ta thấy lăng-Đằng-tằng-tằng-thăng theo thứ tự N-H-H-H-N. Còn cách đối kách là xen kẽ thanh huyền và thanh ngang với nhau. Ví dụ như bài Qua đèo ngang của bà huyện Thanh Quan.
Phép đối trong thơ thất ngôn bát cú, là đối giữa các câu 3-4, 5-6. Các câu này đối lại nhau như các câu đối thời xưa. Rõ nhất là về các câu trong bài Qua đèo Ngang. Về bố cục thì bài thơ được chia làm 4 mỗi phần có 2 câu:
Câu 1-2 là hai câu đề: Mở ra vấn đề về bài thơ
Câu 3-4 là hai câu thực: Giải thích về vẫn đề
Câu 5-6 là hai câu luận: Bàn luận về vấn đề
Câu 7-8 là hai câu kết: Kết luận lại vấn đề
I CÁCH LÀM THƠ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT
Thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật gồm có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, về phối thanh hay luật bằng trắc hoàn toàn giống thơ thất ngôn bát cú. Về gieo vần thì có 3 cách:
Gieo vần vào tiếng cuối các câu 1-2-4 (tiếng cuối câu 3 bắt buộc thanh trắc)
Ví dụ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
Cách này thường được các cao nhân thời xưa xử dụng nhiều nhất.
Gieo vần chéo: vào tiếng cuối các câu 1-3 (tiếng cuối các câu 2-4 phải là thanh trắc) hay các câu 2-4 (tiếng cuối các câu 1-3 phải là thanh trắc). Ví dụ:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
Cách này thường được Hồ Chí Minh sử dụng.
Gieo vần ôm: Tiếng cuối câu 1 vần với tiếng cuối câu 4, tiếng cuối câu 2 vần với tiếng cuối câu 3. Ví dụ:
Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi
Qua những sân cung rộng hải hồ
Có phải A Phòng hay Cô Tô ?
Lá liễu dài như một nét mi
Cách này ít người sử dụng.
Nói chung thơ này giống với thơ thất ngôn bát cú.
Tuy nói là thơ tự do,nhưng nó cũng phải theo 1 quy luật của nó .Vần ôm là khi câu thứ nhất cùng vần với câu thứ 2.Ví dụ:
Muộn màng làm sao bài thơ tôi viết
Để giờ này hối tiếc những ngày qua
Người đã xa tất cả cũng sẽ xa
Chỉ còn tôi với bài thơ viết dở
Biết làm sao khi tôi lầm lỡ
Tự chôn vùi hồn xuống huyệt sâu
Biết làm sao,ta khóc vì đâu
Không hiểu nỗi,trọn đời không giải thích
Chuyện của tôi không như trong cổ tích
Kết thúc buồn còn không hiểu vì sao
Bài thơ tặng người tôi ấp ủ biết bao
Sao không thể trao đến người được.
Có khi nào nhìn bầu trời phía trước
Người chạnh lòng nhớ người ở phương xa?
Có khi nào trên đường phố xa hoa
Người bước đi mong có tôi bên cạnh?
Và giờ đây giữa trời đông giá lạnh
Tôi muốn mình cũng lạnh giá như băng
Lòng nhủ thầm:trời sắp sửa sang xuân
Tôi cũng sẽ trở về tôi ngày trước
Nhưng ngày mai tôi làm sao biết được
Tôi là tôi của ngày tháng năm nao?
Tôi thấy mình sao quá trời tự cao
Mà cũng phải hạ mình...xin lỗi
Người không thương mà còn nỡ lối
Khép tôi vào tội lỗi đáng trách nguyền
Biết làm sao yêu mến sai duyên
Nên chỉ có mình tôi hối tiếc.
(Nanh)
Vần chéo
Vần chéo là khi câu thứ 1 cùng vần với câu thứ 3,hoặc câu thứ 2 cùng vần với câu thứ tư.Ví dụ:
Sương giăng đầy góc phố
Biết là đã mùa thu
Gió lùa vào tóc rối
Lạnh buốt hồn tương tư
Đêm,trăng sao đi vắng
Không gian bỗng não nề
Một vùng đầy khoảng lặng
Tình ta chết đê mê
Ở nơi đây sương gió
Lạnh giá con đường quen
Còn phương trời lạ đó
Anh có nhớ đến em?
(Nanh)
Lục Bát
Lục Bát là loại thơ Sáu Tám, một câu sáu và một câu tám. Bài thơ lục bát luôn đươ.c bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Lục Bát là thể thơ thông dụng nhất, vì cách làm và gieo vần tương đối đơn giản.
Lục= sáu chữ --- chữ 2 Bằng, 4 trắc, 6 Bằng
Bát= tám chữ --- chữ 2 bằng, 4 trắc, 6 bằng, 8 bằng
Trong thơ lục bát, chữ thứ sáu của câu Lục, vần với chữ thứ sáu của câu Bát. Chữ thứ tám của câu Bát vần với chữ thứ sáu của câu Lục kế tiếp và cứ theo quy luật đó cho đến hết bài thơ.
x B x T x B(v)
x B x T x B(v) x B(v)
v= vần
Ví Dụ như sau:
Lim dim(B) đôi mắt(T) em chìm(B)(v1)
Chìm trong (B) giấc mộng(T) êm đềm(B)(v1) khoảng không(B)(v2)
Ô kìa(B) đến chốn(T) phiêu bồng(B)(v2)
Môi anh (B) chạm đến(T) môi hồng (B)(v2) em say...
(Nanh)
CÁCH LÀM THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ
(Thơ Đường Luật)
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật gồm có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Tổng cộng có 56 chữ.
Về cách phối âm, hay luật bằng trắc giữa các câu, ta chỉ nói các thanh Bằng-Trắc của các chữ đứng thứ 2-4-6 trong 1 câu (theo quy tắc Nhất-tam-ngũ bất luận, nhị-tứ-lục phân minh). Các tiếng 2-4-6 trong cùng 1 câu theo thứ tự luật bằng trắc có thể là B - T - B hay có thể là T - B - T.
Ví dụ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông B - T - B
Nuôi đủ năm con với một chồng T - B - T
Đôi khi trong câu đầu tiên của bài thơ cũng có thể làm theo thứ tự B - B - T, cũng có thể xem đó là luật phối thanh của câu T - B - T. Ví dụ:
Một đèo, một đèo, lại một đèo B - B - T
Về cách gieo vần trong thơ: Vần trong thơ là những tiếng đọc giống nhau hay những tiếng đọc gần giống nhau như cùng một vần, hay là vần gần giống nhau mhư sông-chồng, tà-hoa.... Các vần giống nhau trong thơ Đường luật mang thanh bằng, và được đặt ở cuối mỗi câu thơ. Có thể gieo vần vào các tiếng cuối của các câu 1-2-4-6-8, hay có thể là 2-4-6-8, và các vần phải vần với nhau rõ ràng,các tiếng cuối câu 3-5-7 còn lại phải mang thanh trắc, các cao nhân thời xưa thường hay gieo vần vào các tiếng cuối các câu 1-2-4-6-8. Ví dụ:
Sóc phong suy hải khí lăng lăng
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng
Ngạc đoạn, kình khoa sơn khúc khúc
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Quan hà Bách nhị do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Vãn sự hồi đầu ta dĩ hĩ
Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng
(Bạch Đằng hải khẩu - Nguyễn Trãi)
Trong khi gieo vần thường các cao nhan cũng chú ý đối thanh trong thơ, thường có 2 cách đối thanh, đó là đối thanh huyền (H) và thanh ngang (N) trong các vần được gieo. Ở bài thơ ví dụ trên ta thấy lăng-Đằng-tằng-tằng-thăng theo thứ tự N-H-H-H-N. Còn cách đối kách là xen kẽ thanh huyền và thanh ngang với nhau. Ví dụ như bài Qua đèo ngang của bà huyện Thanh Quan.
Phép đối trong thơ thất ngôn bát cú, là đối giữa các câu 3-4, 5-6. Các câu này đối lại nhau như các câu đối thời xưa. Rõ nhất là về các câu trong bài Qua đèo Ngang. Về bố cục thì bài thơ được chia làm 4 mỗi phần có 2 câu:
Câu 1-2 là hai câu đề: Mở ra vấn đề về bài thơ
Câu 3-4 là hai câu thực: Giải thích về vẫn đề
Câu 5-6 là hai câu luận: Bàn luận về vấn đề
Câu 7-8 là hai câu kết: Kết luận lại vấn đề
I CÁCH LÀM THƠ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT
Thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật gồm có 4 câu, mỗi câu 7 chữ, về phối thanh hay luật bằng trắc hoàn toàn giống thơ thất ngôn bát cú. Về gieo vần thì có 3 cách:
Gieo vần vào tiếng cuối các câu 1-2-4 (tiếng cuối câu 3 bắt buộc thanh trắc)
Ví dụ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son
Cách này thường được các cao nhân thời xưa xử dụng nhiều nhất.
Gieo vần chéo: vào tiếng cuối các câu 1-3 (tiếng cuối các câu 2-4 phải là thanh trắc) hay các câu 2-4 (tiếng cuối các câu 1-3 phải là thanh trắc). Ví dụ:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân
Cách này thường được Hồ Chí Minh sử dụng.
Gieo vần ôm: Tiếng cuối câu 1 vần với tiếng cuối câu 4, tiếng cuối câu 2 vần với tiếng cuối câu 3. Ví dụ:
Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi đi
Qua những sân cung rộng hải hồ
Có phải A Phòng hay Cô Tô ?
Lá liễu dài như một nét mi
Cách này ít người sử dụng.
Nói chung thơ này giống với thơ thất ngôn bát cú.